inquirybg

Việc kết hợp màn ngủ tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài với thuốc diệt ấu trùng Bacillus thuringiensis là một phương pháp tích hợp đầy hứa hẹn để ngăn ngừa sự lây truyền bệnh sốt rét ở miền bắc Côte d'Ivoire. Tạp chí Sốt rét |

Sự suy giảm gần đây về gánh nặng bệnh sốt rét ở Côte d'Ivoire phần lớn là nhờ việc sử dụng màn chống muỗi tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài (LLIN). Tuy nhiên, tiến bộ này đang bị đe dọa bởi tình trạng kháng thuốc diệt côn trùng, sự thay đổi hành vi của quần thể muỗi Anopheles gambiae và sự lây truyền sốt rét còn sót lại, đòi hỏi cần có thêm các công cụ hỗ trợ. Do đó, mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kết hợp màn chống muỗi tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài (LLIN) và vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bti) và so sánh nó với chỉ sử dụng LLIN đơn thuần.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020 trên hai nhóm nghiên cứu (nhóm LLIN + Bti và nhóm chỉ LLIN) tại khu vực y tế Korhogo ở phía bắc Côte d'Ivoire. Trong nhóm LLIN + Bti, môi trường sống của ấu trùng muỗi Anopheles được xử lý bằng Bti hai tuần một lần, ngoài việc sử dụng màn chống muỗi tẩm hóa chất (LLIN). Ấu trùng và muỗi trưởng thành được thu thập và xác định hình thái đến cấp chi và loài bằng các phương pháp tiêu chuẩn. Nhiễm Plasmodium Anopheles phức hợp Gambia được xác định bằng công nghệ phản ứng chuỗi polymerase (PCR). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Gambia và dân số địa phương cũng được đánh giá.
Nhìn chung, mật độ ấu trùng muỗi Anopheles spp. thấp hơn ở nhóm LLIN + Bti so với nhóm chỉ dùng LLIN: 0,61 [95% CI 0,41–0,81] ấu trùng/lần lặn (l/lần lặn) và 3,97 [95% CI 3,56–4,38] l/lần lặn (RR = 6,50; 95% CI 5,81–7,29 P < 0,001). Tốc độ cắn tổng thể của An. gambiae là 0,59 [95% CI 0,43–0,75] vết cắn trên người/đêm ở nhóm chỉ dùng LLIN + Bti, so với 2,97 [95% CI 2,02–3,93] vết cắn trên người/đêm ở nhóm chỉ dùng LLIN (P < 0,001). Muỗi Anopheles gambiae chủ yếu được xác định là muỗi Anopheles. Muỗi Anopheles gambiae (ss) (95,1%; n = 293), tiếp theo là muỗi Anopheles gambiae (4,9%; n = 15). Chỉ số máu người trong khu vực nghiên cứu là 80,5% (n = 389). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ước tính (EIR) đối với nhóm LLIN + Bti là 1,36 vết cắn nhiễm bệnh trên mỗi người mỗi năm (ib/p/y), trong khi EIR đối với nhóm chỉ sử dụng LLIN là 47,71 ib/p/y. Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét giảm mạnh từ 291,8‰ (n = 765) xuống 111,4‰ (n = 292) trong nhóm LLIN + Bti (P ​​< 0,001).
Sự kết hợp giữa màn tẩm hóa chất diệt côn trùng (LLIN) và muỗi vằn (Bti) đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh sốt rét. Sự kết hợp giữa LLIN và Bti có thể là một phương pháp tích hợp đầy hứa hẹn để kiểm soát muỗi Anopheles hiệu quả. Gambia hiện đã không còn bệnh sốt rét.
Mặc dù đã có những tiến bộ trong việc kiểm soát bệnh sốt rét trong vài thập kỷ qua, gánh nặng của bệnh sốt rét vẫn là một vấn đề lớn ở châu Phi cận Sahara [1]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gần đây đã báo cáo rằng có 249 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét và ước tính có 608.000 ca tử vong liên quan đến bệnh sốt rét trên toàn thế giới vào năm 2023 [2]. Khu vực Châu Phi của WHO chiếm 95% số ca mắc bệnh sốt rét và 96% số ca tử vong do sốt rét trên thế giới, trong đó phụ nữ mang thai và trẻ em dưới 5 tuổi bị ảnh hưởng nhiều nhất [2, 3].
Màn chống muỗi tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài (LLIN) và phun thuốc diệt côn trùng tồn lưu trong nhà (IRS) đã đóng vai trò quan trọng trong việc giảm gánh nặng bệnh sốt rét ở Châu Phi [4]. Việc mở rộng các công cụ kiểm soát vectơ sốt rét này đã dẫn đến giảm 37% tỷ lệ mắc bệnh sốt rét và giảm 60% tỷ lệ tử vong từ năm 2000 đến năm 2015 [5]. Tuy nhiên, xu hướng quan sát được kể từ năm 2015 đã chững lại một cách đáng báo động hoặc thậm chí tăng tốc, với số ca tử vong do sốt rét vẫn ở mức cao không thể chấp nhận được, đặc biệt là ở Châu Phi cận Sahara [3]. Một số nghiên cứu đã xác định sự xuất hiện và lan rộng của tình trạng kháng thuốc diệt côn trùng ở loài muỗi Anopheles, vectơ truyền bệnh sốt rét chính, đối với các loại thuốc diệt côn trùng được sử dụng trong y tế công cộng là một rào cản đối với hiệu quả của LLIN và IRS trong tương lai [6,7,8]. Ngoài ra, những thay đổi trong hành vi cắn của vectơ ngoài trời và sớm hơn vào ban đêm là nguyên nhân gây ra sự lây truyền sốt rét còn sót lại và đang là mối lo ngại ngày càng tăng [9, 10]. Những hạn chế của LLIN và IRS trong việc kiểm soát các vectơ gây ra sự lây truyền còn sót lại là một hạn chế lớn của các nỗ lực loại trừ bệnh sốt rét hiện nay [11]. Ngoài ra, sự tồn tại dai dẳng của bệnh sốt rét được giải thích bởi các điều kiện khí hậu và hoạt động của con người, góp phần tạo ra môi trường sống cho ấu trùng [12].
Quản lý nguồn ấu trùng (LSM) là một phương pháp kiểm soát vector dựa trên địa điểm sinh sản nhằm mục đích giảm số lượng địa điểm sinh sản và số lượng ấu trùng và nhộng muỗi có trong đó [13]. LSM đã được một số nghiên cứu khuyến nghị như một chiến lược tích hợp bổ sung để kiểm soát vector sốt rét [14, 15]. Trên thực tế, hiệu quả của LSM mang lại lợi ích kép chống lại vết cắn của các loài vector sốt rét cả trong nhà và ngoài trời [4]. Ngoài ra, việc kiểm soát vector bằng LSM dựa trên thuốc diệt ấu trùng như Bacillus thuringiensis israelensis (Bti) có thể mở rộng phạm vi các lựa chọn kiểm soát sốt rét. Trong lịch sử, LSM đã đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát thành công bệnh sốt rét ở Hoa Kỳ, Brazil, Ai Cập, Algeria, Libya, Morocco, Tunisia và Zambia [16, 17, 18]. Mặc dù LSM đã đóng một vai trò quan trọng trong quản lý dịch hại tổng hợp ở một số quốc gia đã xóa sổ bệnh sốt rét, nhưng LSM chưa được tích hợp rộng rãi vào các chính sách và thực tiễn kiểm soát vector sốt rét ở Châu Phi và chỉ được sử dụng trong các chương trình kiểm soát vector ở một số quốc gia cận Sahara. các quốc gia [14,15,16,17,18,19]. Một lý do cho điều này là niềm tin phổ biến rằng các địa điểm sinh sản quá nhiều và khó tìm, khiến việc triển khai LSM rất tốn kém [4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 13, 14]. Do đó, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến nghị trong nhiều thập kỷ rằng các nguồn lực được huy động cho việc kiểm soát vectơ sốt rét nên tập trung vào LLIN và IRS [20, 21]. Mãi đến năm 2012, Tổ chức Y tế Thế giới mới khuyến nghị tích hợp LSM, đặc biệt là các biện pháp can thiệp Bti, như một biện pháp bổ sung cho LLIN và IRS trong một số bối cảnh ở châu Phi cận Sahara [20]. Kể từ khi WHO đưa ra khuyến nghị này, một số nghiên cứu thí điểm đã được tiến hành về tính khả thi, hiệu quả và chi phí của thuốc diệt ấu trùng sinh học ở châu Phi cận Sahara, chứng minh hiệu quả của LSM trong việc giảm mật độ muỗi Anopheles và hiệu quả truyền bệnh sốt rét về mặt [22, 23]. , 24].
Bờ Biển Ngà nằm trong số 15 quốc gia có gánh nặng sốt rét cao nhất thế giới [25]. Tỷ lệ mắc sốt rét ở Bờ Biển Ngà chiếm 3,0% tổng gánh nặng sốt rét toàn cầu, với ước tính tỷ lệ mắc và số ca bệnh dao động từ 300 đến hơn 500 trên 1000 dân [25]. Mặc dù mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5, sốt rét vẫn lây lan quanh năm ở vùng thảo nguyên phía bắc của đất nước [26]. Sự lây truyền sốt rét ở khu vực này có liên quan đến sự hiện diện của một số lượng lớn người mang mầm bệnh Plasmodium falciparum không có triệu chứng [27]. Ở khu vực này, vectơ truyền bệnh sốt rét phổ biến nhất là Anopheles gambiae (SL). An ninh địa phương. Muỗi Anopheles gambiae chủ yếu bao gồm Anopheles gambiae (SS), có khả năng kháng thuốc trừ sâu cao và do đó tiềm ẩn nguy cơ lây truyền sốt rét còn sót lại cao [26]. Việc sử dụng LLIN có thể có tác động hạn chế trong việc giảm lây truyền sốt rét do khả năng kháng thuốc trừ sâu của vectơ địa phương và do đó vẫn là một vấn đề đáng quan tâm. Các nghiên cứu thí điểm sử dụng Bti hoặc LLIN đã cho thấy hiệu quả trong việc giảm mật độ muỗi truyền bệnh ở miền bắc Côte d'Ivoire. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác động của việc sử dụng lặp lại Bti kết hợp với LLIN đối với sự lây truyền và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét trong khu vực này. Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tác động của việc sử dụng kết hợp LLIN và Bti đối với sự lây truyền bệnh sốt rét bằng cách so sánh nhóm LLIN + Bti với nhóm chỉ sử dụng LLIN tại bốn làng ở vùng phía bắc Côte d'Ivoire. Giả thuyết đặt ra là việc triển khai thêm biện pháp diệt muỗi dựa trên Bti (LSM) trên nền LLIN sẽ mang lại giá trị gia tăng bằng cách giảm mật độ muỗi truyền bệnh sốt rét hơn nữa so với chỉ sử dụng LLIN đơn thuần. Phương pháp tiếp cận tích hợp này, nhắm mục tiêu vào muỗi Anopheles chưa trưởng thành mang Bti và muỗi Anopheles trưởng thành mang LLIN, có thể rất quan trọng trong việc giảm sự lây truyền bệnh sốt rét ở những khu vực có tỷ lệ mắc bệnh sốt rét cao, chẳng hạn như các làng ở miền bắc Côte d'Ivoire. Do đó, kết quả của nghiên cứu này có thể giúp quyết định xem có nên đưa LSM vào các chương trình kiểm soát muỗi truyền bệnh sốt rét quốc gia (NMCP) ở các quốc gia cận Sahara có dịch bệnh hay không.
Nghiên cứu hiện tại được thực hiện tại bốn ngôi làng thuộc tỉnh Napieldougou (còn được gọi là Napier) trong khu vệ sinh Korhogo ở phía bắc Côte d'Ivoire (Hình 1). Các làng được nghiên cứu: Kakologo (9° 14′ 2″ N, 5° 35′ 22″ E), Kolekakha (9° 17′ 24″ Bắc, 5° 31′ 00″ E .), Lofinekaha (9° 17′ 31″). ) 5° 36′ 24″ Bắc) và Nambatiurkaha (9° 18′ 36″ Bắc, 5° 31′ 22″ Đông). Dân số của Napierledougou vào năm 2021 được ước tính là 31.000 cư dân, và tỉnh này bao gồm 53 làng với hai trung tâm y tế [28]. Tại tỉnh Napyeledougou, nơi bệnh sốt rét là nguyên nhân hàng đầu gây ra các lượt khám bệnh, nhập viện và tử vong, chỉ có LLIN được sử dụng để kiểm soát vectơ Anopheles [29]. Cả bốn làng trong cả hai nhóm nghiên cứu đều được phục vụ bởi cùng một trung tâm y tế, nơi hồ sơ lâm sàng về các trường hợp sốt rét đã được xem xét trong nghiên cứu này.
Bản đồ Côte d'Ivoire thể hiện khu vực nghiên cứu. (Nguồn bản đồ và phần mềm: dữ liệu GADM và ArcMap 10.6.1. LLIN: màn chống côn trùng tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài, Bti: Bacillus thuringiensis israelensis)
Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét trong nhóm dân số mục tiêu của Trung tâm Y tế Napier đạt 82,0% (2038 trường hợp) (dữ liệu trước Bti). Tại cả bốn ngôi làng, các hộ gia đình chỉ sử dụng màn chống muỗi tẩm hóa chất PermaNet® 2.0 LLIN, được phân phối bởi Chương trình Kiểm soát Sốt rét Quốc gia Bờ Biển Ngà vào năm 2017, với độ bao phủ >80% [25, 26, 27, 28, 30]. Các ngôi làng thuộc vùng Korhogo, nơi được coi là điểm quan sát của Hội đồng Quân sự Quốc gia Bờ Biển Ngà và có thể tiếp cận quanh năm. Mỗi trong bốn ngôi làng có ít nhất 100 hộ gia đình và dân số xấp xỉ nhau, và theo sổ đăng ký y tế (một tài liệu làm việc của Bộ Y tế Bờ Biển Ngà), một số trường hợp sốt rét được báo cáo mỗi năm. Sốt rét chủ yếu do Plasmodium falciparum (P. falciparum) gây ra và lây truyền sang người bởi Plasmodium gambiae, cũng được truyền bởi muỗi Anopheles và Anopheles nili trong khu vực [28]. Tổ hợp An. gambiae chủ yếu bao gồm muỗi Anopheles. gambiae ss có tần suất đột biến kdr cao (phạm vi tần suất: 90,70–100%) và tần suất alen ace-1 vừa phải (phạm vi tần suất: 55,56–95%) [29].
Lượng mưa và nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 1200 đến 1400 mm và từ 21 đến 35 °C tương ứng, và độ ẩm tương đối (RH) ước tính là 58%. Khu vực nghiên cứu này có khí hậu kiểu Sudan với mùa khô kéo dài 6 tháng (tháng 11 đến tháng 4) và mùa mưa kéo dài 6 tháng (tháng 5 đến tháng 10). Khu vực này đang trải qua một số tác động của biến đổi khí hậu, chẳng hạn như mất thảm thực vật và mùa khô kéo dài hơn, đặc trưng bởi sự khô cạn của các vùng nước (vùng đất thấp, ruộng lúa, ao, vũng nước) có thể là môi trường sống cho ấu trùng muỗi Anopheles. Muỗi[26].
Nghiên cứu được tiến hành ở nhóm sử dụng màn chống muỗi tẩm hóa chất diệt côn trùng (LLIN) kết hợp với thuốc diệt côn trùng Bti, bao gồm các làng Kakologo và Nambatiurkaha, và ở nhóm chỉ sử dụng màn chống muỗi tẩm hóa chất (LLIN), bao gồm các làng Kolekaha và Lofinekaha. Trong suốt thời gian nghiên cứu, người dân ở tất cả các làng này chỉ sử dụng màn chống muỗi tẩm hóa chất PermaNet® 2.0.
Hiệu quả của màn chống muỗi tẩm hóa chất diệt côn trùng (LLIN) (PermaNet 2.0) kết hợp với Bti trong việc phòng chống muỗi Anopheles và ngăn ngừa lây truyền sốt rét đã được đánh giá trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) với hai nhóm nghiên cứu: nhóm LLIN + Bti (nhóm điều trị) và nhóm chỉ sử dụng LLIN (nhóm đối chứng). Màn LLIN + Bti được thiết kế ở Kakologo và Nambatiourkaha, trong khi Kolékaha và Lofinékaha chỉ được thiết kế là màn LLIN đơn thuần. Tại cả bốn làng, người dân địa phương đều sử dụng màn LLIN PermaNet® 2.0 nhận được từ Chương trình Kiểm soát Sốt rét Quốc gia Bờ Biển Ngà năm 2017. Giả định rằng điều kiện sử dụng PermaNet® 2.0 là như nhau ở các làng khác nhau vì họ nhận được màn chống muỗi theo cùng một cách. Trong nhóm LLIN + Bti, môi trường sống của ấu trùng muỗi Anopheles được xử lý bằng Bti hai tuần một lần, ngoài màn LLIN mà người dân đã sử dụng. Môi trường sống của ấu trùng trong các làng và trong bán kính 2 km từ trung tâm mỗi làng đã được xử lý theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới và NMCP của Côte d'Ivoire [31]. Ngược lại, nhóm chỉ sử dụng LLIN không được điều trị bằng Bti diệt ấu trùng trong suốt thời gian nghiên cứu.
Chế phẩm sinh học Bti dạng hạt phân tán trong nước (Vectobac WG, 37,4% trọng lượng; số lô 88–916-PG; 3000 đơn vị độc tính quốc tế IU/mg; Valent BioScience Corp, Hoa Kỳ) được sử dụng ở liều lượng 0,5 mg/L. Sử dụng bình phun đeo vai 16L và súng phun bằng sợi thủy tinh có tay cầm và vòi phun điều chỉnh được với tốc độ dòng chảy 52 ml/giây (3,1 L/phút). Để chuẩn bị bình phun sương chứa 10 L nước, lượng Bti pha loãng trong dung dịch huyền phù là 0,5 mg/L × 10 L = 5 mg. Ví dụ, đối với khu vực có lưu lượng nước thiết kế là 10 L, sử dụng bình phun 10 L để xử lý một lượng nước, lượng Bti cần pha loãng là 0,5 mg/L × 20 L = 10 mg. 10 mg Bti được đo tại hiện trường bằng cân điện tử. Sử dụng thìa, chuẩn bị hỗn hợp sệt bằng cách trộn lượng Bti này vào xô chia vạch 10 L. Liều lượng này được chọn sau các thử nghiệm thực địa về hiệu quả của Bti chống lại các giai đoạn phát triển khác nhau của Anopheles spp. và Culex spp. trong điều kiện tự nhiên ở một khu vực khác nhưng tương tự với khu vực nghiên cứu hiện đại [32]. Tỷ lệ ứng dụng của hỗn dịch thuốc diệt ấu trùng và thời gian ứng dụng cho mỗi địa điểm sinh sản được tính toán dựa trên thể tích nước ước tính tại địa điểm sinh sản [33]. Sử dụng bình phun cầm tay đã được hiệu chuẩn để phun Bti. Máy phun sương được hiệu chuẩn và thử nghiệm trong các bài tập riêng lẻ và ở các khu vực khác nhau để đảm bảo lượng Bti được cung cấp chính xác.
Để tìm thời điểm tốt nhất để xử lý các địa điểm sinh sản của ấu trùng, nhóm nghiên cứu đã xác định phương pháp phun thuốc theo khung thời gian. Khung thời gian phun thuốc là khoảng thời gian mà sản phẩm được phun để đạt hiệu quả tối ưu: trong nghiên cứu này, khung thời gian phun thuốc dao động từ 12 giờ đến 2 tuần, tùy thuộc vào độ bền của Bti. Rõ ràng, việc hấp thụ Bti bởi ấu trùng tại địa điểm sinh sản cần một khoảng thời gian từ 7:00 đến 18:00. Bằng cách này, có thể tránh được những thời điểm mưa lớn khi mưa đồng nghĩa với việc phải ngừng phun và bắt đầu lại vào ngày hôm sau nếu thời tiết thuận lợi. Ngày và thời gian phun thuốc cụ thể phụ thuộc vào điều kiện thời tiết quan sát được. Để hiệu chỉnh máy phun đeo vai cho liều lượng Bti mong muốn, mỗi kỹ thuật viên được đào tạo để kiểm tra trực quan và điều chỉnh vòi phun cũng như duy trì áp suất. Việc hiệu chỉnh được hoàn tất bằng cách xác minh rằng lượng Bti xử lý chính xác được phun đều trên mỗi đơn vị diện tích. Xử lý môi trường sống của ấu trùng hai tuần một lần. Các hoạt động diệt ấu trùng được thực hiện với sự hỗ trợ của bốn chuyên gia giàu kinh nghiệm và được đào tạo bài bản. Các hoạt động diệt ấu trùng và người tham gia được giám sát bởi các giám sát viên giàu kinh nghiệm. Việc điều trị diệt ấu trùng bắt đầu vào tháng 3 năm 2019 trong mùa khô. Trên thực tế, một nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng mùa khô là thời kỳ thích hợp nhất để can thiệp diệt ấu trùng do sự ổn định của các địa điểm sinh sản và sự suy giảm về số lượng của chúng [27]. Việc kiểm soát ấu trùng trong mùa khô được kỳ vọng sẽ ngăn chặn sự thu hút muỗi trong mùa mưa. Hai (02) kg Bti có giá 99,29 đô la Mỹ cho phép nhóm nghiên cứu được điều trị bao phủ tất cả các khu vực. Trong nhóm LLIN+Bti, việc can thiệp diệt ấu trùng kéo dài cả năm, từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020. Tổng cộng có 22 trường hợp điều trị diệt ấu trùng xảy ra trong nhóm LLIN + Bti.
Các tác dụng phụ tiềm ẩn (như ngứa, chóng mặt hoặc sổ mũi) được theo dõi thông qua các cuộc khảo sát riêng lẻ đối với máy phun thuốc diệt ấu trùng sinh học Bti và cư dân hộ gia đình tham gia nhóm LIN + Bti.
Một cuộc khảo sát hộ gia đình đã được tiến hành trên 400 hộ gia đình (200 hộ gia đình mỗi nhóm nghiên cứu) để ước tính tỷ lệ sử dụng màn chống muỗi tẩm hóa chất lâu dài (LLIN) trong dân số. Khi khảo sát hộ gia đình, phương pháp khảo sát định lượng bằng bảng câu hỏi được sử dụng. Tỷ lệ sử dụng LLIN được chia thành ba nhóm tuổi: 15 tuổi. Bảng câu hỏi được hoàn thành và giải thích bằng tiếng Senoufo địa phương cho chủ hộ hoặc một người lớn khác trên 18 tuổi.
Kích thước tối thiểu của hộ gia đình được khảo sát được tính bằng công thức do Vaughan và Morrow mô tả [34].
n là kích thước mẫu, e là sai số biên, t là hệ số an toàn được suy ra từ mức độ tin cậy, và p là tỷ lệ cha mẹ trong quần thể có thuộc tính nhất định. Mỗi phần tử của phân số có giá trị nhất quán, do đó (t) = 1,96; Quy mô hộ gia đình tối thiểu trong trường hợp này trong cuộc khảo sát là 384 hộ gia đình.
Trước thí nghiệm hiện tại, các loại môi trường sống khác nhau cho ấu trùng Anopheles trong nhóm LLIN+Bti và nhóm LLIN đã được xác định, lấy mẫu, mô tả, định vị địa lý và dán nhãn. Sử dụng thước dây để đo kích thước của tổ. Mật độ ấu trùng muỗi sau đó được đánh giá hàng tháng trong 12 tháng tại 30 địa điểm sinh sản được chọn ngẫu nhiên trên mỗi làng, tổng cộng 60 địa điểm sinh sản cho mỗi nhóm nghiên cứu. Có 12 mẫu ấu trùng trên mỗi khu vực nghiên cứu, tương ứng với 22 phương pháp điều trị Bti. Mục đích của việc chọn 30 địa điểm sinh sản này trên mỗi làng là để thu thập đủ số lượng địa điểm thu thập ấu trùng trên khắp các làng và đơn vị nghiên cứu nhằm giảm thiểu sai lệch. Ấu trùng được thu thập bằng cách nhúng bằng thìa 60 ml [35]. Do một số vườn ươm rất nhỏ và nông, nên cần phải sử dụng một xô nhỏ khác với xô tiêu chuẩn của WHO (350 ml). Tổng cộng có 5, 10 hoặc 20 lần nhúng được thực hiện từ các địa điểm làm tổ có chu vi 10 m, tương ứng. Việc xác định hình thái của ấu trùng thu thập được (ví dụ: Anopheles, Culex và Aedes) được thực hiện trực tiếp tại hiện trường [36]. Ấu trùng thu thập được được chia thành hai loại dựa trên giai đoạn phát triển: ấu trùng giai đoạn đầu (giai đoạn 1 và 2) và ấu trùng giai đoạn cuối (giai đoạn 3 và 4) [37]. Ấu trùng được đếm theo giống và ở mỗi giai đoạn phát triển. Sau khi đếm, ấu trùng muỗi được đưa trở lại khu vực sinh sản của chúng và được bổ sung nước nguồn có pha thêm nước mưa để đạt thể tích ban đầu.
Địa điểm sinh sản được coi là có nếu có ít nhất một ấu trùng hoặc nhộng của bất kỳ loài muỗi nào. Mật độ ấu trùng được xác định bằng cách chia số lượng ấu trùng cùng giống cho số lần lặn.
Mỗi nghiên cứu kéo dài hai ngày liên tiếp, và cứ hai tháng một lần, muỗi trưởng thành được thu thập từ 10 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên từ mỗi làng. Trong suốt nghiên cứu, mỗi nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát mẫu 20 hộ gia đình trong ba ngày liên tiếp. Muỗi được bắt bằng bẫy cửa sổ tiêu chuẩn (WT) và bẫy phun pyrethrum (PSC) [38, 39]. Đầu tiên, tất cả các ngôi nhà trong mỗi làng được đánh số. Sau đó, bốn ngôi nhà trong mỗi làng được chọn ngẫu nhiên làm điểm thu thập muỗi trưởng thành. Trong mỗi ngôi nhà được chọn ngẫu nhiên, muỗi được thu thập từ phòng ngủ chính. Các phòng ngủ được chọn có cửa và cửa sổ và đã được sử dụng vào đêm hôm trước. Các phòng ngủ được đóng kín trước khi bắt đầu làm việc và trong quá trình thu thập muỗi để ngăn muỗi bay ra khỏi phòng. Một bẫy WT được lắp đặt ở mỗi cửa sổ của mỗi phòng ngủ làm điểm lấy mẫu muỗi. Ngày hôm sau, muỗi bay vào nơi làm việc từ phòng ngủ được thu thập từ 06:00 đến 08:00 sáng. Thu thập muỗi từ khu vực làm việc của bạn bằng ống ngậm và bảo quản chúng trong cốc giấy dùng một lần được đậy bằng một miếng vải thô. Màn chống muỗi. Muỗi đậu trong cùng phòng ngủ được bắt ngay sau khi thu thập mẫu WT bằng bẫy PSC gốc pyrethroid. Sau khi trải ga trắng lên sàn phòng ngủ, đóng cửa và cửa sổ rồi phun thuốc diệt côn trùng (thành phần hoạt chất: 0,25% transfluthrin + 0,20% permethrin). Khoảng 10 đến 15 phút sau khi phun, gỡ bỏ ga trải giường khỏi phòng ngủ đã xử lý, dùng nhíp gắp những con muỗi đậu trên ga trắng và cho vào đĩa Petri chứa bông gòn thấm nước. Số người ngủ qua đêm trong các phòng ngủ được chọn cũng được ghi lại. Muỗi thu thập được nhanh chóng được chuyển đến phòng thí nghiệm tại chỗ để xử lý tiếp.
Trong phòng thí nghiệm, tất cả muỗi được thu thập đều được xác định về mặt hình thái học đến chi và loài [36]. Buồng trứng của Anna. gambiae SL bằng kính hiển vi soi nổi hai mắt với một giọt nước cất đặt trên lam kính [35]. Tình trạng sinh con được đánh giá để phân biệt phụ nữ sinh nhiều con với phụ nữ chưa sinh con dựa trên hình thái buồng trứng và khí quản, cũng như để xác định tỷ lệ sinh sản và tuổi sinh lý [35].
Chỉ số tương đối được xác định bằng cách kiểm tra nguồn máu tươi được thu thập. gambiae bằng xét nghiệm miễn dịch liên kết enzyme (ELISA) sử dụng máu từ người, gia súc (bò, cừu, dê) và gà [40]. Nhiễm ký sinh trùng (EIR) được tính toán bằng cách sử dụng An. Ước tính của phụ nữ SL ở Gambia [41]. Ngoài ra, nhiễm Plasmodium gambiae được xác định bằng cách phân tích đầu và ngực của những con cái sinh nhiều lứa bằng phương pháp ELISA kháng nguyên circumsporozoite (CSP ELISA) [40]. Cuối cùng, các thành viên của Ann. gambiae được xác định bằng cách phân tích chân, cánh và bụng của nó bằng kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (PCR) [34].
Dữ liệu lâm sàng về bệnh sốt rét được thu thập từ sổ đăng ký khám bệnh của Trung tâm Y tế Napyeledugou, bao gồm cả bốn làng tham gia nghiên cứu này (tức là Kakologo, Kolekaha, Lofinekaha và Nambatiurkaha). Việc xem xét sổ đăng ký tập trung vào các hồ sơ từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 2 năm 2019 và từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020. Dữ liệu lâm sàng từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 2 năm 2019 đại diện cho dữ liệu cơ sở hoặc trước khi can thiệp bằng Bti, trong khi dữ liệu lâm sàng từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020 đại diện cho dữ liệu trước khi can thiệp bằng Bti. Dữ liệu sau khi can thiệp bằng Bti. Thông tin lâm sàng, tuổi và làng của mỗi bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu LLIN+Bti và nhóm nghiên cứu LLIN được thu thập trong sổ đăng ký y tế. Đối với mỗi bệnh nhân, thông tin như quê quán, tuổi, chẩn đoán và bệnh lý được ghi lại. Trong các trường hợp được xem xét trong nghiên cứu này, bệnh sốt rét được xác nhận bằng xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDT) và/hoặc soi kính hiển vi tìm ký sinh trùng sốt rét sau khi được điều trị phối hợp bằng artemisinin (ACT) bởi nhân viên y tế. Các trường hợp mắc bệnh sốt rét được chia thành ba nhóm tuổi (tức là 15 tuổi). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét hàng năm trên 1000 dân được ước tính bằng cách chia tỷ lệ hiện mắc bệnh sốt rét trên 1000 dân cho dân số của làng.
Dữ liệu thu thập được trong nghiên cứu này được nhập hai lần vào cơ sở dữ liệu Microsoft Excel và sau đó được nhập vào phần mềm mã nguồn mở R [42] phiên bản 3.6.3 để phân tích thống kê. Gói ggplot2 được sử dụng để vẽ biểu đồ. Mô hình tuyến tính tổng quát sử dụng hồi quy Poisson được sử dụng để so sánh mật độ ấu trùng và số lượng trung bình muỗi đốt trên mỗi người mỗi đêm giữa các nhóm nghiên cứu. Các phép đo tỷ lệ liên quan (RR) được sử dụng để so sánh mật độ ấu trùng trung bình và tỷ lệ đốt của muỗi Culex và Anopheles. Gambia SL được đặt giữa hai nhóm nghiên cứu bằng cách sử dụng nhóm LLIN + Bti làm cơ sở. Kích thước hiệu ứng được thể hiện dưới dạng tỷ lệ chênh lệch và khoảng tin cậy 95% (95% CI). Tỷ lệ (RR) của thử nghiệm Poisson được sử dụng để so sánh tỷ lệ và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét trước và sau can thiệp Bti trong mỗi nhóm nghiên cứu. Mức ý nghĩa được sử dụng là 5%.
Nghiên cứu này đã được Ủy ban Đạo đức Nghiên cứu Quốc gia thuộc Bộ Y tế và Sức khỏe Cộng đồng Côte d'Ivoire phê duyệt (Số tham chiếu: 001//MSHP/CNESVS-kp), cũng như bởi sở y tế khu vực và chính quyền Korhogo. Trước khi thu thập ấu trùng và muỗi trưởng thành, sự đồng ý có chữ ký đã được thu thập từ những người tham gia khảo sát hộ gia đình, chủ sở hữu và/hoặc người cư trú. Dữ liệu gia đình và lâm sàng được ẩn danh và bảo mật, chỉ được cung cấp cho các nhà nghiên cứu được chỉ định.
Tổng cộng có 1198 địa điểm làm tổ được khảo sát. Trong số các địa điểm làm tổ được khảo sát trong khu vực nghiên cứu, 52,5% (n = 629) thuộc nhóm LLIN + Bti và 47,5% (n = 569) thuộc nhóm chỉ sử dụng LLIN (RR = 1,10 [95% CI 0,98–1,24], P = 0,088). Nhìn chung, môi trường sống của ấu trùng được phân loại thành 12 loại, trong đó ruộng lúa chiếm tỷ lệ lớn nhất (24,5%, n=294), tiếp theo là hệ thống thoát nước mưa (21,0%, n=252) và đồ gốm (8,3%). (%, n = 99), bờ sông (8,2%, n = 100), vũng nước (7,2%, n = 86), vũng nước (7,0%, n = 84), máy bơm nước làng (6,8%, n = 81), dấu chân (4,8%, n = 58), đầm lầy (4,0%, n = 48), bình gốm (5,2%, n = 62), ao (1,9%, n = 23) và giếng (0,9%, n = 11).
Nhìn chung, tổng cộng 47.274 ấu trùng muỗi đã được thu thập từ khu vực nghiên cứu, với tỷ lệ 14,4% (n = 6.796) ở nhóm LLIN + Bti so với 85,6% (n = 40.478) ở nhóm chỉ sử dụng LLIN ( (RR = 5,96) [95% CI 5,80–6,11], P ≤ 0,001). Các ấu trùng này bao gồm ba chi muỗi, loài chiếm ưu thế là Anopheles (48,7%, n = 23.041), tiếp theo là Culex spp. (35,0%, n = 16.562) và Aedes spp. (4,9%, n = 2340). Nhộng chiếm 11,3% số ruồi chưa trưởng thành (n = 5344).
Mật độ trung bình tổng thể của ấu trùng muỗi Anopheles spp. Trong nghiên cứu này, số lượng ấu trùng trên mỗi lần lấy mẫu là 0,61 [95% CI 0,41–0,81] L/lần nhúng trong nhóm LLIN + Bti và 3,97 [95% CI 3,56–4,38] L/lần nhúng trong nhóm chỉ sử dụng LLIN (tùy chọn). Tệp 1: Hình S1). Mật độ trung bình của nhóm chỉ sử dụng LLIN cao hơn 6,5 lần so với nhóm LLIN + Bti (HR = 6,49; 95% CI 5,80–7,27; P < 0,001). Không phát hiện thấy muỗi Anopheles nào trong suốt quá trình điều trị. Ấu trùng được thu thập trong nhóm LLIN + Bti bắt đầu từ tháng Giêng, tương ứng với lần điều trị Bti thứ hai mươi. Trong nhóm LLIN + Bti, mật độ ấu trùng ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối giảm đáng kể.
Trước khi bắt đầu điều trị bằng Bti (tháng 3), mật độ trung bình của muỗi Anopheles ở giai đoạn đầu được ước tính là 1,28 [95% CI 0,22–2,35] l/lần nhúng trong nhóm LLIN + Bti và 1,37 [95% CI 0,36–2,36] l/lần nhúng trong nhóm LLIN + Bti. Sau khi áp dụng phương pháp điều trị bằng Bti, mật độ trung bình của muỗi Anopheles ở giai đoạn đầu trong nhóm LLIN + Bti nhìn chung giảm dần từ 0,90 [95% CI 0,19–1,61] xuống 0,10 [95% CI – 0,03–0,18] l/lần nhúng. Mật độ ấu trùng Anopheles ở giai đoạn đầu vẫn ở mức thấp trong nhóm LLIN + Bti. Trong nhóm chỉ sử dụng LLIN, sự biến động về số lượng muỗi Anopheles spp. Quan sát thấy ấu trùng ở giai đoạn đầu có mật độ trung bình dao động từ 0,23 [95% CI 0,07–0,54] L/lần nhúng đến 2,37 [95% CI 1,77–2,98] L/lần nhúng. Nhìn chung, mật độ trung bình của ấu trùng Anopheles giai đoạn đầu trong nhóm chỉ sử dụng màn tẩm hóa chất diệt côn trùng (LLIN) cao hơn đáng kể về mặt thống kê, ở mức 1,90 [95% CI 1,70–2,10] L/lần nhúng, trong khi mật độ trung bình của ấu trùng Anopheles giai đoạn đầu trong nhóm sử dụng LLIN là 0,38 [95% CI 0,28–0,47] L/lần nhúng. Nhóm sử dụng Bti (RR = 5,04; 95% CI 4,36–5,85; P < 0,001).
Thay đổi mật độ trung bình của ấu trùng muỗi Anopheles. Màn chống muỗi ở giai đoạn đầu (A) và giai đoạn cuối (B) trong một nhóm nghiên cứu từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020 tại vùng Napier, phía bắc Côte d'Ivoire. LLIN: màn chống muỗi tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài. Bti: Bacillus thuringiensis, Israel. TRT: điều trị;
Mật độ trung bình của ấu trùng muỗi Anopheles spp. giai đoạn cuối trong nhóm LLIN + Bti. Mật độ Bti trước khi xử lý là 2,98 [95% CI 0,26–5,60] L/lần nhúng, trong khi mật độ trong nhóm chỉ sử dụng LLIN là 1,46 [95% CI 0,26–2,65] l/ngày. Sau khi sử dụng Bti, mật độ ấu trùng muỗi Anopheles giai đoạn cuối trong nhóm LLIN + Bti giảm từ 0,22 [95% CI 0,04–0,40] xuống 0,03 [95% CI 0,00–0,06] L/lần nhúng (Hình 2B). Trong nhóm chỉ sử dụng màn chống muỗi tẩm hóa chất (LLIN), mật độ ấu trùng Anopheles giai đoạn cuối tăng từ 0,35 [khoảng tin cậy 95% - 0,15-0,76] lên 2,77 [khoảng tin cậy 95% 1,13-4,40] l/lần lặn, với một số biến động về mật độ ấu trùng tùy thuộc vào ngày lấy mẫu. Mật độ trung bình của ấu trùng Anopheles giai đoạn cuối trong nhóm chỉ sử dụng LLIN là 2,07 [khoảng tin cậy 95% 1,84–2,29] L/lần lặn, cao gấp chín lần so với 0,23 [khoảng tin cậy 95% 0,11–0,36] l/lần ngâm trong nhóm LLIN + Bti (RR = 8,80; khoảng tin cậy 95% 7,40–10,57; P < 0,001).
Mật độ trung bình của muỗi Culex spp. là 0,33 [khoảng tin cậy 95% 0,21–0,45] L/nhúng trong nhóm LLIN + Bti và 2,67 [khoảng tin cậy 95% 2,23–3,10] L/nhúng trong nhóm chỉ sử dụng LLIN (tệp bổ sung 2: Hình S2). Mật độ trung bình của muỗi Culex spp. trong nhóm chỉ sử dụng LLIN cao hơn đáng kể so với nhóm LLIN + Bti (HR = 8,00; khoảng tin cậy 95% 6,90–9,34; P < 0,001).
Mật độ trung bình của chi Culex (Culex spp.) trước khi xử lý, Bti l/dip là 1,26 [95% CI 0,10–2,42] l/dip trong nhóm LLIN + Bti và 1,28 [95% CI 0,37–2,36] trong nhóm chỉ sử dụng LLIN (Hình 3A). Sau khi áp dụng phương pháp xử lý Bti, mật độ ấu trùng Culex giai đoạn đầu giảm từ 0,07 [95% CI - 0,001–0,00] xuống 0,25 [95% CI 0,006–0,51] L/dip. Không có ấu trùng Culex nào được thu thập từ môi trường sống của ấu trùng được xử lý bằng Bti bắt đầu từ tháng 12. Mật độ ấu trùng muỗi Culex giai đoạn đầu giảm xuống còn 0,21 [95% CI 0,14–0,28] L/lần nhúng trong nhóm LLIN + Bti, nhưng cao hơn trong nhóm chỉ dùng LLIN ở mức 1,30 [95% CI 1,10– 1,50] l/lần nhúng/ngày. Mật độ ấu trùng muỗi Culex giai đoạn đầu trong nhóm chỉ dùng LLIN cao gấp 6 lần so với nhóm LLIN + Bti (RR = 6,17; 95% CI 5,11–7,52; P < 0,001).
Thay đổi mật độ trung bình của ấu trùng muỗi Culex spp. Thử nghiệm giai đoạn đầu đời (A) và giai đoạn đầu đời (B) trong một nhóm nghiên cứu từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020 tại vùng Napier, phía bắc Bờ Biển Ngà. Màn chống côn trùng tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài (LLIN), Bti (Bacillus thuringiensis Israel), Trt (điều trị).
Trước khi điều trị bằng Bti, mật độ trung bình của ấu trùng muỗi Culex giai đoạn cuối trong nhóm LLIN + Bti và nhóm LLIN lần lượt là 0,97 [95% CI 0,09–1,85] và 1,60 [95% CI – 0,16–3,37] l/lần nhúng (Hình 3B). Mật độ trung bình của loài muỗi Culex giai đoạn cuối sau khi bắt đầu điều trị bằng Bti. Mật độ trong nhóm LLIN + Bti giảm dần và thấp hơn so với nhóm chỉ dùng LLIN, nhóm này vẫn ở mức rất cao. Mật độ trung bình của ấu trùng muỗi Culex giai đoạn cuối là 0,12 [95% CI 0,07–0,15] L/lần nhúng trong nhóm LLIN + Bti và 1,36 [95% CI 1,11–1,61] L/lần nhúng trong nhóm chỉ dùng LLIN. Mật độ trung bình của ấu trùng muỗi Culex giai đoạn cuối cao hơn đáng kể ở nhóm chỉ sử dụng màn tẩm hóa chất diệt côn trùng (LLIN) so với nhóm sử dụng LLIN kết hợp với Bti (RR = 11,19; 95% CI 8,83–14,43; P < 0,001).
Trước khi điều trị bằng Bti, mật độ nhộng trung bình trên mỗi con bọ rùa là 0,59 [khoảng tin cậy 95% 0,24–0,94] ở nhóm LLIN + Bti và 0,38 [khoảng tin cậy 95% 0,13–0,63] ở nhóm chỉ sử dụng LLIN (Hình 4). Mật độ nhộng tổng thể là 0,10 [khoảng tin cậy 95% 0,06–0,14] ở nhóm LLIN + Bti và 0,84 [khoảng tin cậy 95% 0,75–0,92] ở nhóm chỉ sử dụng LLIN. Điều trị bằng Bti đã làm giảm đáng kể mật độ nhộng trung bình ở nhóm LLIN + Bti so với nhóm chỉ sử dụng LLIN (OR = 8,30; khoảng tin cậy 95% 6,37–11,02; P < 0,001). Ở nhóm LLIN + Bti, không thu thập được nhộng nào sau tháng 11.
Thay đổi về mật độ trung bình của nhộng. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020 tại vùng Napier ở phía bắc Côte d'Ivoire. Màn chống côn trùng tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài (LLIN), Bti (Bacillus thuringiensis Israel), điều trị bằng Trt.
Tổng cộng 3456 con muỗi trưởng thành đã được thu thập từ khu vực nghiên cứu. Muỗi thuộc 17 loài của 5 chi (Anopheles, Culex, Aedes, Eretmapodites) (Bảng 1). Trong số các loài muỗi truyền bệnh sốt rét, An. gambiae sl là loài phổ biến nhất với tỷ lệ 74,9% (n = 2587), tiếp theo là An. gambiae sl. funestus (2,5%, n = 86) và An. funestus (0,7%, n = 24). Tỷ lệ An. gambiae sl trong nhóm LLIN + Bti (10,9%, n = 375) thấp hơn so với nhóm chỉ sử dụng LLIN (64%, n = 2212). Không có cá thể An. funestus nào được nhóm chung với nhóm chỉ sử dụng LLIN. Tuy nhiên, An. gambiae và An. funestus đều có mặt trong cả nhóm LLIN + Bti và nhóm chỉ sử dụng LLIN.
Trong các nghiên cứu bắt đầu trước khi ứng dụng Bti tại địa điểm sinh sản (3 tháng), số lượng muỗi hoạt động về đêm trung bình trên mỗi người (con/người/đêm) trong nhóm LLIN + Bti được ước tính là 0,83 [95% CI 0,50–1,17], trong khi ở nhóm LLIN + Bti, con số này là 0,72 trong nhóm chỉ sử dụng LLIN [95% CI 0,41–1,02] (Hình 5). Trong nhóm LLIN + Bti, thiệt hại do muỗi Culex giảm và duy trì ở mức thấp mặc dù đạt đỉnh điểm 1,95 [95% CI 1,35–2,54] con/người vào tháng 9 sau lần ứng dụng Bti thứ 12. Tuy nhiên, trong nhóm chỉ sử dụng LLIN, tỷ lệ muỗi cắn trung bình tăng dần trước khi đạt đỉnh điểm vào tháng 9 ở mức 11,33 [95% CI 7,15–15,50] con/người. Tỷ lệ bị muỗi đốt nhìn chung thấp hơn đáng kể ở nhóm sử dụng màn tẩm hóa chất diệt muỗi (LLIN) kết hợp với kháng sinh Bti so với nhóm chỉ sử dụng màn tẩm hóa chất diệt muỗi (LLIN) tại bất kỳ thời điểm nào trong suốt nghiên cứu (HR = 3,66; 95% CI 3,01–4,49; P < 0,001).
Tỷ lệ muỗi đốt trong khu vực nghiên cứu thuộc vùng Napier ở phía bắc Côte d'Ivoire từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020. Màn chống muỗi tẩm thuốc diệt côn trùng lâu dài (LLIN), Bti (Bacillus thuringiensis Israel), điều trị bằng Trt, số vết đốt (b/p/đêm/người/đêm).
Muỗi Anopheles gambiae là tác nhân truyền bệnh sốt rét phổ biến nhất trong khu vực nghiên cứu. Tốc độ cắn của An. Ở thời điểm ban đầu, phụ nữ Gambia có giá trị b/p/n là 0,64 [95% CI 0,27–1,00] trong nhóm LLIN + Bti và 0,74 [95% CI 0,30–1,17] trong nhóm chỉ sử dụng LLIN (Hình 6). Trong thời gian can thiệp bằng Bti, hoạt động cắn cao nhất được quan sát thấy vào tháng 9, tương ứng với đợt điều trị Bti thứ mười hai, với đỉnh điểm là 1,46 [95% CI 0,87–2,05] b/p/n trong nhóm LLIN + Bti và đỉnh điểm là 9,65 [95% CI 0,87–2,05] b/p/n trong nhóm chỉ sử dụng LLIN. Tốc độ cắn tổng thể của An. Tỷ lệ nhiễm bệnh ở Gambia thấp hơn đáng kể ở nhóm LLIN + Bti (0,59 [95% CI 0,43–0,75] b/p/n) so với nhóm chỉ dùng LLIN (2,97 [95% CI 2,02–3,93] b/p/n). (RR = 3,66; 95% CI 3,01–4,49; P < 0,001).
Tốc độ cắn của Anna. Gambiae sl, đơn vị nghiên cứu tại vùng Napier, phía bắc Bờ Biển Ngà, từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020. Màn ngủ tẩm thuốc diệt côn trùng LLIN, Bti Bacillus thuringiensis Israel, điều trị Trt, số vết cắn b/p/đêm/người/đêm
Tổng cộng 646 ampe. Gambia bị chia cắt. Nhìn chung, tỷ lệ an ninh địa phương. Tỷ lệ sinh con ở Gambia nói chung là >70% trong suốt thời gian nghiên cứu, ngoại trừ tháng 7, khi chỉ sử dụng nhóm LLIN (Tệp bổ sung 3: Hình S3). Tuy nhiên, tỷ lệ sinh trung bình trong khu vực nghiên cứu là 74,5% (n = 481). Trong nhóm LLIN+Bti, tỷ lệ sinh con vẫn ở mức cao, trên 80%, ngoại trừ tháng 9, khi tỷ lệ sinh con giảm xuống 77,5%. Tuy nhiên, sự biến động về tỷ lệ sinh trung bình đã được quan sát thấy trong nhóm chỉ sử dụng LLIN, với tỷ lệ sinh trung bình ước tính thấp nhất là 64,5%.
Theo nghiên cứu số 389 của Ann, một nghiên cứu về các đơn vị máu riêng lẻ từ Gambia cho thấy 80,5% (n = 313) có nguồn gốc từ người, 6,2% (n = 24) phụ nữ tiêu thụ máu hỗn hợp (người và gia súc) và 5,1% (n = 20) tiêu thụ máu từ gia súc (bò, cừu và dê), và 8,2% (n = 32) mẫu được phân tích cho kết quả âm tính với bữa ăn máu. Trong nhóm LLIN + Bti, tỷ lệ phụ nữ nhận máu người là 25,7% (n = 100) so với 54,8% (n = 213) trong nhóm chỉ sử dụng LLIN (Tệp bổ sung 5: Bảng S5).
Tổng cộng 308 mẫu P. gambiae đã được xét nghiệm để xác định các thành viên của quần thể loài và nhiễm P. falciparum (Tệp bổ sung 4: Bảng S4). Hai “loài có liên quan” cùng tồn tại trong khu vực nghiên cứu, đó là An. gambiae ss (95,1%, n = 293) và An. coluzzii (4,9%, n = 15). Tỷ lệ Anopheles gambiae ss thấp hơn đáng kể ở nhóm LLIN + Bti so với nhóm chỉ dùng LLIN (66,2%, n = 204) (RR = 2,29 [95% CI 1,78–2,97], P < 0,001). Tỷ lệ muỗi Anopheles tương tự được tìm thấy ở nhóm LLIN + Bti (3,6%, n = 11) và nhóm chỉ dùng LLIN (1,3%, n = 4) (RR = 2,75 [95% CI 0,81–11,84], P = 0,118). Tỷ lệ nhiễm Plasmodium falciparum ở muỗi Anopheles SL tại Gambia là 11,4% (n = 35). Tỷ lệ nhiễm Plasmodium falciparum ở Gambia thấp hơn đáng kể ở nhóm LLIN + Bti (2,9%, n = 9) so với nhóm chỉ dùng LLIN (8,4%, n = 26) (RR = 2,89 [95% CI 1,31–7,01], P = 0,006). So với muỗi Anopheles, muỗi Anopheles gambiae có tỷ lệ nhiễm Plasmodium cao nhất ở mức 94,3% (n=32). Muỗi Anopheles coluzzii chỉ có tỷ lệ 5,7% (n = 5) (RR = 6,4 [95% CI 2,47–21,04], P < 0,001).
Tổng cộng có 2.435 người từ 400 hộ gia đình được khảo sát. Mật độ dân số trung bình là 6,1 người/hộ. Tỷ lệ sở hữu màn chống muỗi tẩm hóa chất (LLIN) trong các hộ gia đình là 85% (n = 340), so với 15% (n = 60) đối với các hộ gia đình không có LLIN (RR = 5,67 [95% CI 4,29–7,59], P < 0,001) (Phụ lục 5: Bảng S5). Tỷ lệ sử dụng LLIN là 40,7% (n = 990) trong nhóm LLIN + Bti so với 36,2% (n = 882) trong nhóm chỉ sử dụng LLIN (RR = 1,12 [95% CI 1,02–1,23], P = 0,013). Tỷ lệ sử dụng màn chống muỗi trung bình chung trong khu vực nghiên cứu là 38,4% (n = 1842). Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi sử dụng Internet tương tự nhau ở cả hai nhóm nghiên cứu, với tỷ lệ sử dụng màn chống muỗi là 41,2% (n = 195) ở nhóm LLIN + Bti và 43,2% (n = 186) ở nhóm chỉ sử dụng LLIN. (HR = 1,05 [95% CI 0,85–1,29], P = 0,682). Trong số trẻ em từ 5 đến 15 tuổi, không có sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng màn chống muỗi giữa 36,3% (n = 250) ở nhóm LLIN + Bti và 36,9% (n = 250) ở nhóm chỉ sử dụng LLIN (RR = 1,02 [95% CI 1,02–1,23], P = 0,894). Tuy nhiên, những người trên 15 tuổi sử dụng màn chống muỗi ít hơn 42,7% (n = 554) trong nhóm LLIN + Bti so với 33,4% (n = 439) trong nhóm chỉ sử dụng LLIN (RR = 1,26 [95% CI 1,11–1,43], P <0,001).
Tổng cộng có 2.484 trường hợp lâm sàng được ghi nhận tại Trung tâm Y tế Napier từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 2 năm 2020. Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét lâm sàng trong dân số nói chung là 82,0% trong tổng số các trường hợp bệnh lý lâm sàng (n = 2038). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét hàng năm tại địa phương trong khu vực nghiên cứu này là 479,8‰ và 297,5‰ trước và sau khi điều trị bằng Bti (Bảng 2).


Thời gian đăng bài: 01/07/2024