Thuốc trừ sâu Methoprene 95%TC chất lượng cao với giá tốt nhất
Mô tả sản phẩm
Đây là một loại thuốc trừ sâu sinh hóa thuộc nhóm hormone sinh trưởng ở côn trùng. Hormone sinh trưởng ở côn trùng có thể điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và biến thái của chúng. Chức năng chính của hormone sinh trưởng là ức chế sự biến thái của ấu trùng chưa trưởng thành, duy trì các đặc điểm của giai đoạn ấu trùng và giữ nguyên hình dạng ấu trùng sau khi lột xác.
MethopreneVới vai trò là chất bảo vệ lá thuốc lá, chất này cản trở quá trình bóc vỏ của côn trùng. Nó có thể can thiệp vào quá trình sinh trưởng và phát triển của bọ cánh cứng thuốc lá và sâu đục bột thuốc lá, khiến côn trùng trưởng thành mất khả năng sinh sản, từ đó kiểm soát hiệu quả sự gia tăng quần thể của các loài gây hại lá thuốc lá trong kho.
Ứng dụng
Hormone sinh trưởng ở côn trùng không thể trực tiếp giết chết côn trùng, chúng chỉ có thể khiến côn trùng chết trong quá trình biến thái, hoặc làm giảm số lượng con non thông qua việc gây vô sinh hoặc trứng không nở. Do đó, tác dụng của chúng chậm và không thể nhanh chóng kiểm soát tác hại của các loài gây hại bùng nổ, hạn chế ứng dụng của chúng trong nông nghiệp. Hiện nay, chúng chủ yếu được sử dụng trong các lĩnh vực sau:
1. Phòng ngừa và kiểm soát các loại côn trùng gây hại. Fenpropathrin có hoạt tính cao chống lại gián Đức và có thể gây vô sinh ở cả con cái và con đực trưởng thành. Điều trị liên tục bằng thuốc này có thể khiến chúng tuyệt chủng do vô sinh sau sáu tháng đến một năm, và nó cũng hiệu quả đối với các loài gián lớn. Việc tạo ra chất giải phóng chậm methoprene cũng hiệu quả trong việc phòng ngừa và điều trị bọ chét, muỗi và ruồi.
2. Kiểm soát sâu hại thuộc bộ Hemiptera. Fenvalerate có hiệu quả trong việc kiểm soát rệp và ruồi trắng trong nhà kính và đã được đăng ký tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, độ ổn định không tốt khi sử dụng ngoài đồng ruộng. Dioxycarb có hiệu quả trong việc kiểm soát ruồi trắng và giáp xác trong nhà kính.
3. Phòng ngừa và kiểm soát sâu hại trong kho. Hormone juvenile có hoạt tính cao chống lại các loài sâu bướm gây hại trong quá trình bảo quản, chẳng hạn như ngũ cốc, bột mì và thuốc lá. Tại Hoa Kỳ, nó đã được thử nghiệm và chứng minh hiệu quả chống lại nhiều loại sâu hại trong kho, tương tự như fenpropathrin và carbendazim.
4. Phòng ngừa và kiểm soát kiến. Mồi Fenpropathrin có thể cản trở quá trình biến thái bình thường của ấu trùng gây hại, làm cho kiến chúa bị vô sinh và kiểm soát hiệu quả kiến nhà bếp. Cũng có báo cáo về việc sử dụng hormone sinh trưởng để điều trị mối.
5. Tăng sản lượng tơ. Phun hormone juvenile hoặc hormone giả juvenile như hormone kháng juvenile lên kén tằm (2-4 microgam/đầu) hoặc lên thân tằm giai đoạn 5 (1-3 microgam/đầu) có thể ức chế quá trình biến thái, kéo dài giai đoạn ấu trùng 5 hơn một ngày, tăng lượng thức ăn tiêu thụ, tăng kích thước cá thể và tăng sản lượng tơ. Nói chung, phương pháp này có thể tăng số lượng kén trên 10000 con lên khoảng 15%.
Sử dụng các phương pháp
1. Bảo quản lá thuốc lá để phòng trừ bọ thuốc lá. Phun trực tiếp dung dịch bột hòa tan 41% với lượng gấp 40000 lần lên lá thuốc lá. Để đảm bảo phun đều và bao phủ toàn bộ lá thuốc lá, có thể sử dụng phương pháp pha loãng định lượng hoặc thiết bị phun thể tích cực thấp đa hướng chuyên dụng.
2. Độ nhạy cảm của côn trùng đối với hormone juvenile thay đổi ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển khác nhau. Ấu trùng hoặc nhộng nhạy cảm nhất ở giai đoạn cuối, trong khi các giai đoạn khác ít nhạy cảm hơn. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của côn trùng, thời điểm thích hợp được lựa chọn và hormone juvenile ngoại sinh được sử dụng để phá vỡ sự cân bằng hormone bình thường trong cơ thể côn trùng, gây ra sự biến thái bất thường, vô sinh ở con trưởng thành hoặc không có khả năng ấp trứng, từ đó đạt được mục tiêu kiểm soát và tiêu diệt dịch hại.
3. Giá trị IC50 của fenvalerate đối với ấu trùng muỗi Culex pipiens là 0,48 microgam/lít, và giá trị ID50 của fenvalerate đối với nhộng sâu bướm sáp là 2,2 microgam/nhộng.






