inquirybg

Thuốc bán chạy Difenoconazole CAS: 119446-68-3

Mô tả ngắn gọn:

Difenoconazole là một loại thuốc diệt nấm triazole tương đối an toàn, được sử dụng rộng rãi trong cây ăn quả, rau và các loại cây trồng khác, có hiệu quả trong phòng ngừa và kiểm soát bệnh đốm đen, bệnh đậu đen, bệnh thối trắng, bệnh đốm lá, bệnh phấn trắng, bệnh đốm nâu, bệnh rỉ sắt, bệnh rỉ sọc, bệnh ghẻ, v.v.


  • CAS:119446-68-3
  • Công thức phân tử:C19h17cl2n3o3
  • Điểm nóng chảy: 76
  • Chức năng:Khử trùng cây ăn quả, rau và các loại cây trồng khác.
  • Độ hòa tan trong nước:3,3 mg/L
  • Chi tiết sản phẩm

    Thẻ sản phẩm

    Đối tượng điều khiển

    Sản phẩm có phổ diệt khuẩn rộng, tác dụng bảo vệ và điều trị lâu dài đối với các loại nấm Ascomycetes, Basidiomycetes và Bactriospora, bao gồm Streptospora, Dichospora, Coccygospora, Bulbocribacea, Stylosphaerospora và một số tác nhân gây bệnh khác. Hiệu quả điều trị bệnh thán thư và thối trắng trên nho cũng rất tốt. Phun qua lá hoặc xử lý hạt giống có thể cải thiện năng suất và đảm bảo chất lượng cây trồng.

    Công nghệ ứng dụng

    Các loại cây trồng phù hợp và an toàn: Cà chua, củ cải đường, chuối, các loại cây ngũ cốc, lúa, đậu nành, cây trồng làm vườn và các loại rau khác. Khi xử lý bằng thân và lá lúa mì và lúa mạch (chiều cao cây lúa mì từ 24~42cm), đôi khi lá sẽ bị đổi màu, nhưng sẽ không ảnh hưởng đến năng suất.

    Đối tượng điều khiển

    Các loại nấm gây bệnh như nấm Basidiomycotina và Alternaria, nấm vỏ 2 chi, nấm mốc đuôi, nấm tấm đẩy, nấm mốc hình nón, nấm mốc điểm thân, nấm mốc vách cột, nấm vỏ kim, nấm sao đen không hoàn chỉnh, nấm mốc phấn trắng, nấm gỉ sắt và một số loại vi khuẩn gây bệnh khác đều có tác dụng bảo vệ lâu dài và điều trị hiệu quả. Đồng thời, thuốc cũng có tác dụng điều trị tốt đối với các bệnh như đốm nâu củ cải đường, bệnh bạc vỏ lúa mì, bệnh bạc lá, nấm gỉ sắt và nấm mốc do nhiều tác nhân gây bệnh, bệnh sao đen táo, nấm mốc phấn trắng, nấm mốc phấn trắng nho, bệnh bạc lá sớm khoai tây, bệnh đốm lá lạc, bệnh đốm mạng nhện, v.v.

     

    Phương pháp sử dụng

    Chủ yếu được sử dụng làm thuốc phun lá và thuốc xử lý hạt giống. Thuốc dạng hạt phân tán trong nước 10% phenoxyconazole chủ yếu được sử dụng để xử lý thân và lá, với liều lượng 30~125g (hoạt chất)/hm2. Thuốc dạng hạt phân tán trong nước 10% phenoxyconazole chủ yếu được sử dụng để phòng ngừa và kiểm soát bệnh đốm đen trên lê, bệnh đốm lá trên táo, bệnh khô héo cà chua, bệnh cháy lá dưa hấu, bệnh thán thư ớt, bệnh phấn trắng dâu tây, bệnh thán thư nho, bệnh đậu đen, bệnh ghẻ cam quýt, v.v.

    1. Đối với bệnh đốm đen trên cây lê ở giai đoạn đầu, sử dụng 10% dung dịch phân tán trong nước, pha loãng 6000-7000 lần hoặc cho mỗi 100 lít nước pha với 14,3-16,6g chế phẩm (nồng độ hiệu quả 14,3-16,6 mg/L). Khi bệnh nặng, có thể tăng nồng độ, khuyến cáo sử dụng 3000-5000 lần dung dịch hoặc cho mỗi 100 lít nước pha với 20-33g chế phẩm (nồng độ 20-33mg/L), và phun liên tục 2-3 lần với khoảng thời gian 7-14 ngày.
    2. Ở giai đoạn đầu của bệnh đốm lá táo, sử dụng 2500-3000 lần dung dịch hoặc 33-40g chế phẩm trên 100L nước (nồng độ hiệu quả 33-40mg/L). Khi bệnh nặng, pha 1500-2000 lần dung dịch hoặc thêm 50-66,7g chế phẩm trên 100L nước (nồng độ hiệu quả 50-66,7mg/L), cách nhau 7-14 ngày, phun liên tục 2-3 lần.
    3. Bệnh thán thư nho, bệnh đốm đen với lượng dịch gấp 1500 đến 2000 lần hoặc cứ 100L nước thì pha thêm chế phẩm với liều lượng 50 đến 66,7g (nồng độ hiệu quả 50 đến 66,7mg/L).
    4. Đối với bệnh ghẻ cam, pha loãng dung dịch với tỷ lệ 2000-2500 lần hoặc mỗi 100 lít nước cộng thêm 40-50g chế phẩm (nồng độ hiệu quả 40-50mg/L) để phun.
    5. 50~80g (5~8g) chế phẩm trị bệnh mốc sương dưa hấu cho mỗi mẫu Anh.
    6. Chế phẩm trị bệnh phấn trắng dâu tây: 20~40g/mẫu (thành phần hoạt tính 2~4g).
    7. Để phòng trừ bệnh cà chua giai đoạn đầu, cần sử dụng liều lượng gấp 800 đến 1200 lần lưu lượng hoặc trên 100L nước với chế phẩm có nồng độ 83 đến 125g (nồng độ hiệu quả 83 đến 125mg/L), hoặc với chế phẩm có nồng độ hoạt chất từ ​​4,0 đến 60g (4 đến 6g/mu).
    8. Phòng trừ bệnh thán thư ớt giai đoạn đầu bằng cách pha loãng 800-1200 lần dung dịch hoặc sử dụng 83-125g chế phẩm cho mỗi 100 lít nước (nồng độ hiệu quả 83-125mg/L), hoặc sử dụng 40-60g chế phẩm cho mỗi mu (thành phần hiệu quả 4-6g).

     

    Những vấn đề cần chú ý

    (1) Không nên trộn phenoxyconazole với các chế phẩm đồng. Vì chế phẩm đồng có thể làm giảm khả năng diệt khuẩn của nó, nếu thực sự cần thiết phải trộn với chế phẩm đồng, cần phải tăng liều lượng phenoxyconazole lên hơn 10%. Mặc dù phenoxyconazole có khả năng hấp thụ nội bộ, nó có thể được truyền đến toàn bộ cơ thể cây thông qua mô truyền dẫn, nhưng để đảm bảo hiệu quả kiểm soát, lượng nước tiêu thụ phải đủ khi phun, yêu cầu phun đồng đều toàn bộ cây.
    (2) Lượng dung dịch phun cho dưa hấu, dâu tây và ớt là 50 lít/mẫu. Lượng dung dịch phun cho cây ăn quả có thể được xác định theo kích thước cây, cây ăn quả lớn cần lượng dung dịch phun cao hơn, cây ăn quả nhỏ cần lượng dung dịch phun thấp nhất. Nên phun vào buổi sáng và buổi tối khi nhiệt độ thấp và không có gió. Nên ngừng phun khi độ ẩm tương đối của không khí thấp hơn 65%, nhiệt độ cao hơn 28°C và tốc độ gió lớn hơn 5m/s vào những ngày nắng.
    (3) Mặc dù phenoxymeclozole có tác dụng kép bảo vệ và điều trị, nhưng để giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra, tác dụng bảo vệ của nó cần được phát huy tối đa, do đó thời điểm ứng dụng nên sớm hơn là muộn, và hiệu quả phun thuốc tốt nhất nên được thực hiện ở giai đoạn đầu của bệnh.

     

  • Trước:
  • Kế tiếp:

  • Hãy viết tin nhắn của bạn vào đây và gửi cho chúng tôi.